Điều 46 luật doanh nghiệp 2020

Rate this post

Điều 46 luật doanh nghiệp 2020 là một trong những quy định quan trọng nhất điều chỉnh vấn đề góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Việc góp vốn đúng hạn và đúng loại tài sản có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành và tính hợp pháp của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp sau khi thành lập vẫn lúng túng trong việc xác định thời hạn góp vốn, chứng minh tài sản góp vốn hoặc xử lý trường hợp thành viên góp vốn chậm. Nếu không nắm rõ quy định tại Điều 46, doanh nghiệp rất dễ bị vi phạm pháp luật và chịu rủi ro trong quá trình hoạt động. Bài viết này được xây dựng nhằm giúp người đọc hiểu rõ nội dung điều luật, cách áp dụng trên thực tế và các lưu ý quan trọng cần tuân thủ. Chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ các khía cạnh pháp lý theo đúng quy định hiện hành. Đây sẽ là nguồn thông tin đáng tin cậy cho cá nhân, tổ chức đang tìm hiểu về pháp luật doanh nghiệp.

Điều 46 Luật DN 2020
Điều 46 Luật DN 2020

Toàn văn Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 (≈ 450–520 từ – dưới dạng tóm lược nội dung)

Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và là một trong những điều khoản quan trọng nhất khi soạn điều lệ, hợp đồng góp vốn. Nội dung chính của điều luật xoay quanh các vấn đề: thời hạn góp vốn của thành viên, quyền – nghĩa vụ gắn với phần vốn đã góp, xử lý trường hợp góp không đủ, không đúng hạn và việc điều chỉnh vốn điều lệ, danh sách thành viên tương ứng.

Trước hết, Điều 46 xác định thời hạn góp vốn của các thành viên kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (thông thường là 90 ngày, trừ trường hợp điều lệ quy định thời hạn ngắn hơn hoặc việc góp vốn bằng tài sản phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu mất thêm thời gian thực hiện thủ tục hành chính). Trong thời hạn này, thành viên phải góp đủ số vốn đã cam kết theo loại tài sản, giá trị ghi trong điều lệ.

Trong thời gian chưa góp đủ vốn, thành viên chỉ được hưởng quyền tương ứng với phần vốn đã góp, đồng thời phải chịu trách nhiệm đối với phần vốn cam kết nhưng chưa góp. Khi hết thời hạn mà vẫn không góp đủ, người không góp hoặc góp không đủ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong khoảng thời gian trước khi công ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ và danh sách thành viên.

Điều 46 cũng quy định rõ cách xử lý phần vốn chưa góp: công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm vốn điều lệ xuống bằng tổng giá trị phần vốn đã thực góp; đồng thời, cập nhật lại danh sách thành viên trong thời hạn luật định. Thành viên không góp vốn hoặc góp không đủ có thể bị loại khỏi danh sách thành viên, phần vốn còn lại có thể được chào bán cho người khác.

Đối với hình thức và loại tài sản góp vốn, Điều 46 dẫn chiếu, gắn kết với các quy định chung về tài sản góp vốn trong Luật Doanh nghiệp: thành viên có thể góp bằng tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các loại tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Việc định giá tài sản góp vốn phải được các thành viên thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức định giá, đảm bảo không thấp hơn giá trị thị trường tại thời điểm góp.

Tóm lại, Điều 46 là “khung xương pháp lý” về góp vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, bảo đảm tính minh bạch về vốn điều lệ, ràng buộc trách nhiệm của thành viên với phần vốn cam kết, đồng thời trao cơ chế cho công ty xử lý kịp thời trường hợp góp vốn không đúng thỏa thuận.

Nội dung quy định về góp vốn của thành viên

Theo tinh thần Điều 46, thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có nghĩa vụ góp đủ và đúng loại tài sản đã cam kết trong một thời hạn nhất định kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Việc góp vốn có thể bằng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; giá trị và loại tài sản đó phải được ghi nhận trong điều lệ, hợp đồng góp vốn và sổ đăng ký thành viên.

Trong thời hạn góp vốn, công ty phải cấp giấy chứng nhận phần vốn góp tương ứng với giá trị đã thực góp cho từng thành viên. Giấy này thể hiện rõ tên, địa chỉ, số giấy tờ pháp lý của thành viên; giá trị, tỷ lệ phần vốn góp; ngày góp và chữ ký người đại diện theo pháp luật. Đây là căn cứ xác định tư cách thành viên, tỷ lệ quyền biểu quyết, quyền hưởng lợi nhuận, chia tài sản khi giải thể…

Điều 46 cũng nhấn mạnh, trong thời gian chưa góp đủ vốn, thành viên chỉ được thực hiện quyền tương ứng với phần vốn đã thực góp. Nếu thành viên đã cam kết góp 30% vốn điều lệ nhưng mới góp thực tế 10%, thì tạm thời quyền biểu quyết, quyền hưởng lợi nhuận chỉ tính trên 10%. Điều này tránh tình trạng thành viên “hứa góp vốn lớn” để được quyền quyết định nhiều, nhưng không thực sự bỏ tiền/tài sản vào công ty.

Tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí, gửi ngay hồ sơ đến hộp thư: dvgiaminh@gmail.com

Hoặc nhấc máy lên, Gọi ngay cho chúng tôi: 0932 785 561 - 0868 458 111 (zalo).

Thời hạn góp vốn 90 ngày – ý nghĩa pháp lý

Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thành viên góp đủ vốn cam kết (trừ khi điều lệ quy định thời hạn ngắn hơn hoặc phần thời gian cần thiết để chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn). Đây là mốc thời gian rất quan trọng:

Thứ nhất, nó tạo khoảng đệm hợp lý để thành viên hoàn tất các thủ tục chuẩn bị tài chính, chuyển nhượng tài sản, sang tên, định giá…

Thứ hai, 90 ngày là ranh giới để xác định trách nhiệm: nếu sau thời hạn này vẫn không góp đủ, thành viên phải chịu trách nhiệm với toàn bộ phần vốn cam kết đối với các nghĩa vụ của công ty phát sinh trước khi điều chỉnh vốn điều lệ.

Thứ ba, đây là cơ sở để cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế kiểm soát tính trung thực của vốn điều lệ. Công ty không thể “để treo” vốn điều lệ quá lâu so với vốn thực góp.

Vì vậy, thời hạn 90 ngày không chỉ là con số kỹ thuật, mà còn là cơ chế ràng buộc trách nhiệm và chống khai khống vốn điều lệ.

Quy định về hình thức và loại tài sản góp vốn

Điều 46 gắn với các quy định chung về tài sản góp vốn trong Luật Doanh nghiệp. Thành viên có thể góp vốn bằng:

Tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng;

Tài sản hữu hình: máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, bất động sản…;

Tài sản vô hình: quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các quyền tài sản khác.

Tài sản góp vốn phải được định giá bằng Đồng Việt Nam, thông qua thỏa thuận của các thành viên hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp. Giá trị định giá không được thấp hơn giá trị thị trường tại thời điểm góp vốn, tránh việc “thổi phồng” hoặc “làm đẹp” vốn điều lệ. Sau khi góp, công ty phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản sang công ty theo quy định (đăng ký sang tên, bàn giao tài sản…), nếu không, việc góp vốn được xem là chưa hoàn tất về mặt pháp lý.

Phân tích chi tiết Điều 46 theo từng nội dung pháp lý

Điều 46 có thể chia thành ba nhóm nội dung pháp lý chính: (1) nghĩa vụ góp vốn đúng hạn, đúng giá trị; (2) hệ quả khi góp vốn chậm, không đủ; (3) cơ chế điều chỉnh vốn điều lệ và tư cách thành viên tương ứng. Mỗi nhóm đều gắn với trách nhiệm cụ thể của thành viên và công ty.

Thứ nhất, về nghĩa vụ góp vốn, luật yêu cầu từng thành viên phải góp đủ phần vốn đã cam kết trong thời hạn luật định. Công ty có trách nhiệm giám sát, ghi nhận và cập nhật sổ đăng ký thành viên theo số vốn thực góp. Trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp chỉ dừng ở mức ghi vốn điều lệ “trên giấy”, nhưng không theo dõi kỹ việc thực góp, dẫn đến tranh chấp khi phân chia lợi nhuận hoặc xử lý nợ.

Thứ hai, về trách nhiệm khi góp vốn chậm hoặc không góp đủ, Điều 46 quy định rõ: sau thời hạn góp vốn, nếu thành viên chưa góp hoặc góp không đủ, thì:

Thành viên đó phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong khoảng thời gian từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến trước ngày công ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ.

Phần vốn chưa góp sẽ được coi là chưa thanh toán, công ty buộc phải xử lý: có thể yêu cầu thành viên thanh toán, hoặc chào bán phần vốn này cho người khác.

Thứ ba, về điều chỉnh vốn điều lệ và danh sách thành viên, công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ bằng đúng tổng giá trị phần vốn đã thực góp sau khi hết thời hạn. Đồng thời cập nhật lại danh sách thành viên tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Đây là nghĩa vụ mang tính chủ động của công ty; nếu không thực hiện, công ty và thành viên có thể phải chịu rủi ro khi phát sinh nợ hoặc bị cơ quan nhà nước kiểm tra.

Sau khi góp vốn đủ, thành viên được hưởng quyền tương ứng với tỷ lệ vốn góp: quyền biểu quyết, quyền chia lợi nhuận, quyền chuyển nhượng phần vốn góp, quyền ưu tiên mua phần vốn góp chào bán, quyền được cung cấp thông tin về hoạt động của công ty… Đồng thời, họ có nghĩa vụ góp vốn đúng thời hạn, không rút vốn trái luật, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi vốn đã góp (nếu là thành viên đã góp đủ và đúng).

Nhìn tổng thể, Điều 46 không chỉ là “một điều luật về thời hạn góp vốn” mà là cơ chế bảo vệ tính thực chất của vốn điều lệ, bảo vệ lợi ích của chủ nợ, đối tác và các thành viên khác.

Trách nhiệm khi góp vốn chậm hoặc không góp đủ

Khi hết thời hạn góp vốn mà thành viên không góp hoặc góp không đủ, Điều 46 đặt ra hai tầng trách nhiệm:

Đối với công ty: công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, danh sách thành viên; đồng thời có thể yêu cầu thành viên còn nợ vốn góp thanh toán phần vốn cam kết hoặc xử lý bằng cách chào bán phần vốn đó cho người khác.

Đối với thành viên: người không góp đủ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong giai đoạn từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến trước ngày công ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ.

Ví dụ, một thành viên cam kết góp 2 tỷ nhưng chỉ góp 500 triệu rồi “im lặng”; nếu trong thời gian đó công ty phát sinh khoản nợ, thành viên này có thể phải chịu trách nhiệm đến mức 2 tỷ chứ không chỉ 500 triệu, đối với phần nghĩa vụ thuộc giai đoạn trước khi công ty điều chỉnh vốn điều lệ. Đây là cơ chế ràng buộc mạnh để tránh tình trạng “hứa miệng” nhưng không thực sự góp vốn.

Quyền và nghĩa vụ của thành viên sau khi góp vốn

Sau khi góp vốn, thành viên có hai nhóm: người đã góp đủ, đúng hạn và người góp chưa đủ, chậm hạn. Điều 46 và các điều liên quan xác định:

Thành viên đã góp đủ vốn được hưởng đầy đủ quyền: quyền biểu quyết, quyền chia lợi nhuận, quyền tiếp cận thông tin, quyền chuyển nhượng phần vốn góp… tương ứng với tỷ lệ vốn góp.

Người chưa góp đủ vốn chỉ được hưởng quyền theo phần vốn đã góp. Nếu mới góp 30% phần đã cam kết, thì tạm thời chỉ có quyền tương ứng với 30% đó; phần còn lại chưa được coi là đã thanh toán nên không hưởng quyền lợi trên phần chưa góp.

Về nghĩa vụ, thành viên phải góp vốn đúng loại tài sản, đúng giá trị và thời hạn; không rút vốn trái quy định; bảo mật thông tin kinh doanh; chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ công ty trong phạm vi luật định (trong trường hợp góp chưa đủ, trách nhiệm có thể vượt phần vốn đã góp trong giai đoạn trước khi điều chỉnh vốn điều lệ). Đây là cơ sở để duy trì sự công bằng giữa các thành viên.

Xử lý phần vốn chưa góp – điều chỉnh vốn điều lệ

Khi hết thời hạn góp vốn mà có thành viên chưa góp hoặc góp thiếu, công ty buộc phải:

Xác định chính xác số vốn đã thực góp của từng thành viên;

Giảm vốn điều lệ xuống bằng tổng giá trị vốn thực góp;

Cập nhật lại danh sách thành viên gửi cơ quan đăng ký kinh doanh.

Các phần vốn cam kết nhưng không được thanh toán có thể:

Bị hủy, thành viên đó bị loại khỏi danh sách thành viên; hoặc

Được công ty chào bán cho thành viên khác hoặc người ngoài.

Việc chậm điều chỉnh vốn điều lệ tiềm ẩn rủi ro: trên giấy tờ, vốn điều lệ vẫn cao, khiến đối tác và chủ nợ tin rằng công ty có khả năng tài chính lớn hơn thực tế; nếu có tranh chấp, công ty và thành viên có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực. Vì vậy, xử lý kịp thời phần vốn chưa góp là yêu cầu bắt buộc, không chỉ là “thủ tục nội bộ”.

Ví dụ thực tế về áp dụng Điều 46 trong doanh nghiệp

Để dễ hình dung tác động của Điều 46, ta xem một số tình huống điển hình trong thực tế. Doanh nghiệp, khi soạn điều lệ và hợp đồng góp vốn, nên dự liệu sẵn các kịch bản này để tránh tranh chấp nội bộ.

Tình huống thường gặp nhất là thành viên góp vốn chậm hoặc không góp đủ. Ban đầu, mọi người cam kết góp vốn cao để dự án được phê duyệt, đăng ký vốn điều lệ lớn nhằm tạo uy tín với đối tác. Nhưng sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, việc góp vốn thực tế bị chậm, thậm chí có người “thoái lui”. Nếu công ty không xử lý theo đúng Điều 46, sự chênh lệch giữa vốn điều lệ và vốn thực góp sẽ ngày càng lớn, ảnh hưởng đến quản trị và uy tín.

Một tình huống khác là góp vốn bằng tài sản khác tiền mặt: máy móc, xe ô tô, quyền sử dụng đất, phần mềm, quyền sở hữu trí tuệ… Nếu không định giá rõ ràng và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, sau này rất dễ tranh chấp: tài sản đó là của ai, giá trị góp vốn là bao nhiêu, ai hưởng lợi nhuận/tổn thất. Điều 46, kết hợp với các điều về tài sản góp vốn, đặt ra yêu cầu bắt buộc về việc định giá và hoàn tất thủ tục pháp lý.

Cũng có trường hợp thành viên muốn rút khỏi công ty trong thời hạn góp vốn. Họ chưa góp hoặc mới góp một phần, nhưng vì lý do cá nhân không muốn tiếp tục. Nếu điều lệ không quy định rõ cách xử lý, công ty sẽ lúng túng: có cho rút cam kết không, xử lý phần vốn đã góp thế nào, có cần mời thành viên mới thay thế hay giảm vốn điều lệ…

Thông qua các ví dụ này, có thể thấy Điều 46 không chỉ mang tính “lý thuyết”, mà ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền, cấu trúc sở hữu, quyền quản trị và trách nhiệm tài chính của công ty. Doanh nghiệp nên xây dựng quy trình nội bộ: theo dõi tiến độ góp vốn, nhắc nhở thành viên, lập biên bản xác nhận, định kỳ rà soát để kịp thời đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ khi cần thiết.

Thành viên góp vốn chậm – cách xử lý

Giả sử công ty TNHH A có 3 thành viên, mỗi người cam kết góp 1 tỷ trong vòng 90 ngày. Sau 90 ngày:

Thành viên 1 góp đủ 1 tỷ;

Thành viên 2 góp 700 triệu;

Thành viên 3 chưa góp.

Cách xử lý theo tinh thần Điều 46:

Công ty lập biên bản xác nhận số vốn đã thực góp;

Thông báo cho thành viên 2 và 3 về việc phải chịu trách nhiệm trên toàn bộ phần vốn cam kết (1 tỷ mỗi người) đối với nghĩa vụ của công ty phát sinh trong giai đoạn vừa qua;

Quyết định xử lý phần vốn chưa góp: yêu cầu thanh toán trong thời hạn bổ sung hợp lý, hoặc chào bán số vốn tương ứng cho người khác;

Sau khi chốt được số vốn thực góp, công ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ xuống bằng tổng số vốn đã góp (ví dụ: 1,7 tỷ nếu không có nhà đầu tư mới).

Như vậy, công ty vừa tuân thủ luật, vừa bảo vệ được quyền lợi của người đã góp đủ vốn.

Góp vốn bằng tài sản khác tiền mặt – quy trình định giá

Ví dụ, thành viên B góp vốn bằng một xe tải phục vụ vận chuyển hàng hóa, thay vì góp tiền mặt. Theo Luật Doanh nghiệp, tài sản này phải được định giá bằng Đồng Việt Nam:

Các thành viên có thể tự thỏa thuận định giá (ghi rõ trong biên bản góp vốn), hoặc thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp để xác định giá trị thị trường của xe tại thời điểm góp vốn.

Sau khi thống nhất giá trị, công ty ghi nhận vào điều lệ/sổ đăng ký thành viên: “B góp 800 triệu bằng xe tải biển số…”.

Tiến hành chuyển quyền sở hữu xe từ B sang công ty (sang tên giấy đăng ký xe, cập nhật bảo hiểm, đăng kiểm…).

Nếu định giá cao hơn thực tế, toàn bộ thành viên liên đới chịu trách nhiệm; nếu định giá thấp, rủi ro thuộc về thành viên góp tài sản. Quy trình chặt chẽ giúp tránh tranh chấp “xe của tôi hay của công ty?” sau này.

Thành viên rút khỏi công ty trong thời hạn góp vốn

Giả sử thành viên C cam kết góp 500 triệu nhưng mới góp 100 triệu thì muốn rút khỏi công ty trước khi hết 90 ngày. Về nguyên tắc:

Phần 100 triệu đã góp được coi là vốn góp thực tế; phần 400 triệu chưa góp là phần cam kết chưa thực hiện.

Công ty và C có thể thỏa thuận: C chuyển nhượng phần vốn 100 triệu cho thành viên khác hoặc người ngoài; đồng thời, công ty không còn ghi nhận C là thành viên.

Nếu không tìm được người thay thế, công ty có thể quyết định giảm vốn điều lệ tương ứng, sau đó đăng ký điều chỉnh với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Điều 46 không cấm việc thành viên rút cam kết nếu chưa góp, nhưng nhấn mạnh: trong thời gian từ khi đăng ký doanh nghiệp đến trước khi điều chỉnh vốn, C vẫn có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn cam kết đối với các nghĩa vụ đã phát sinh, nếu việc rút cam kết không được xử lý và đăng ký điều chỉnh kịp thời.

Các tình huống pháp lý thường gặp liên quan Điều 46

Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về việc góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên: thời hạn góp vốn 90 ngày, quyền và nghĩa vụ của thành viên trong thời gian góp vốn, cách xử lý khi không góp đủ, trách nhiệm điều chỉnh vốn điều lệ… Trên thực tế, các tranh chấp và rủi ro pháp lý thường xoay quanh việc không chứng minh được tài sản góp vốn, thay đổi ý chí góp vốn so với đã cam kết, và công ty không kịp thời điều chỉnh vốn điều lệ khi hết thời hạn góp vốn. Nếu ngay từ đầu không kiểm soát chặt, doanh nghiệp dễ rơi vào thế bị động: vốn trên giấy khác vốn thực góp, quyền biểu quyết không rõ ràng, nghĩa vụ tài chính – trách nhiệm với bên thứ ba không được xác định đúng…

Không chứng minh được tài sản góp vốn

Một tình huống khá phổ biến là thành viên cam kết góp vốn bằng tài sản (xe ô tô, máy móc, nhà xưởng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ…) nhưng khi đến hạn góp vốn, không chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp hoặc tài sản đang tranh chấp, đang thế chấp. Theo Điều 46, việc góp vốn bằng tài sản phải được chuyển quyền sở hữu hợp pháp sang công ty trong thời hạn góp vốn. Nếu không thực hiện được, được xem là không góp đủ vốn, và phần chưa góp được xử lý như nợ hoặc bị giảm phần vốn cam kết.

Vướng mắc thường phát sinh khi trước đó các bên chỉ “thỏa thuận miệng”, không lập biên bản định giá tài sản, không xác lập thủ tục chuyển quyền. Khi xảy ra tranh chấp, thành viên đó có thể mất tư cách, hoặc chỉ được ghi nhận vốn theo phần đã góp được chứng minh, kéo theo thay đổi tỷ lệ quyền biểu quyết, chia lợi nhuận. Giải pháp thực tế là ngay từ khi cam kết góp vốn bằng tài sản, cần kiểm tra pháp lý tài sản, lập biên bản định giá và chuẩn bị hồ sơ chuyển quyền song song.

Thành viên muốn thay đổi phần vốn đã cam kết góp

Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Điều 46 cho phép thành viên góp vốn theo phần đã cam kết. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp: đến gần hết thời hạn, một thành viên muốn giảm phần vốn, hoặc không còn khả năng góp như cam kết ban đầu và đề nghị rút bớt, chuyển nhượng cho người khác.

Về nguyên tắc, phần vốn cam kết là căn cứ để cấp giấy phép, nên việc thay đổi phải được tập thể thành viên chấp thuận, sửa điều lệ, điều chỉnh danh sách thành viên và đăng ký thay đổi vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu công ty không kịp thời xử lý, vừa vi phạm quy định về góp vốn, vừa tạo ra khoảng “mờ” giữa vốn cam kết và vốn thực góp. Trong thực hành, nên có biên bản họp, nghị quyết rõ ràng về việc chấp nhận/chuyển nhượng phần vốn chưa góp, xác định trách nhiệm của thành viên không tiếp tục góp và cập nhật hồ sơ pháp lý ngay khi chốt được phương án.

Công ty không điều chỉnh vốn điều lệ đúng hạn

Điều 46 yêu cầu sau khi hết thời hạn 90 ngày mà vẫn còn thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ vốn, công ty phải:

Xác định lại phần vốn góp thực tế của từng thành viên;

Giảm vốn điều lệ xuống bằng tổng vốn thực góp;

Đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ trong thời hạn luật định.

Nếu công ty không thực hiện, sẽ phát sinh tình trạng: vốn điều lệ ghi trên giấy cao hơn rất nhiều so với vốn thực có, làm sai lệch năng lực tài chính khi giao dịch với bên thứ ba và có thể bị xử phạt hành chính về đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, thành viên không góp đủ vốn vẫn bị liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong thời gian cam kết góp vốn theo mức vốn đã cam kết, không phải theo mức vốn thực góp. Đây là rủi ro lớn nếu công ty không kịp thời “dọn” lại vốn điều lệ cho đúng thực tế.

So sánh Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 và 2014

Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 kế thừa khung pháp lý cơ bản của Luật 2014 về góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, nhưng có một số điểm mới quan trọng nhằm siết chặt trách nhiệm góp vốn, làm rõ hơn hậu quả pháp lý khi không góp đủ và tăng trách nhiệm của công ty trong việc điều chỉnh vốn điều lệ. Trọng tâm thay đổi xoay quanh: cách tính thời hạn góp vốn, cách xác định quyền – nghĩa vụ của thành viên trong thời hạn góp vốn, xử lý phần vốn chưa góp và nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh vốn.

Nếu như Luật 2014 đã quy định cơ bản về thời hạn góp vốn 90 ngày và trách nhiệm của thành viên, thì Luật 2020 chi tiết hơn về việc loại trừ một số khoảng thời gian khách quan, đồng thời nhấn mạnh rõ hơn việc công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ khi hết thời hạn góp vốn mà không góp đủ. Điều này giúp hạn chế tình trạng doanh nghiệp “để nguyên vốn điều lệ trên giấy”, trong khi thực tế không góp đủ, gây rủi ro cho đối tác, chủ nợ.

Điểm mới về thời hạn góp vốn

Cả Luật Doanh nghiệp 2014 và 2020 đều giữ thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thành viên góp đủ vốn. Tuy nhiên, Luật 2020 có quy định rõ hơn về việc không tính vào 90 ngày các khoảng thời gian cần thiết cho: vận chuyển tài sản góp vốn, làm thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản, hoặc các trường hợp bất khả kháng khác.

Điểm mới này giúp giải quyết bất cập trong thực tiễn Luật 2014: nhiều loại tài sản (máy móc nhập khẩu, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất…) cần thời gian khá dài để hoàn tất thủ tục chuyển quyền, nếu “đếm cứng” 90 ngày sẽ rất khó khả thi. Luật 2020 linh hoạt hơn nhưng vẫn giữ nguyên nguyên tắc: thành viên phải có thiện chí và thực tế triển khai việc góp vốn, không được vin vào lý do “thủ tục lâu” để kéo dài vô thời hạn.

Sự thay đổi về xử lý trách nhiệm thành viên

Luật 2014 đã quy định: thành viên chưa góp hoặc góp không đủ vốn theo cam kết thì chỉ được hưởng quyền tương ứng với phần vốn đã góp và phải chịu trách nhiệm với công ty và bên thứ ba về phần vốn đã cam kết. Luật 2020 tiếp tục kế thừa nhưng diễn đạt rõ hơn, tránh hiểu lầm rằng chỉ cần góp một phần nhỏ là “thoát” trách nhiệm phần còn lại.

Cụ thể, Luật 2020 nhấn mạnh: phần vốn chưa góp được coi là khoản nợ đối với công ty; thành viên liên đới chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong thời gian chưa góp đủ vốn trên phạm vi vốn đã cam kết, không chỉ trên vốn đã góp. Điều này nâng cao tính ràng buộc: thành viên không thể lợi dụng việc “kéo dài” góp vốn để tham gia biểu quyết, hưởng lợi từ công ty nhưng lại không chịu đầy đủ rủi ro tài chính tương ứng với phần vốn cam kết.

Quy định nâng cao trách nhiệm điều chỉnh vốn của công ty

Một điểm nhấn của Luật Doanh nghiệp 2020 so với 2014 là nhấn mạnh trách nhiệm của công ty trong việc điều chỉnh vốn điều lệ và cơ cấu thành viên sau khi hết thời hạn góp vốn mà không góp đủ.

Nếu trước đây nhiều doanh nghiệp “bỏ quên” nghĩa vụ này, để vốn điều lệ “ảo” kéo dài nhiều năm, thì Luật 2020 quy định rõ: công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với phần vốn thực góp, đồng thời điều chỉnh danh sách thành viên trong thời hạn pháp luật yêu cầu. Nếu không thực hiện, công ty có thể bị xử phạt hành chính về đăng ký doanh nghiệp, đồng thời gây rủi ro cho chính mình khi làm việc với ngân hàng, đối tác. Quy định này buộc doanh nghiệp phải “dọn dẹp” phần vốn góp ngay từ đầu, tạo môi trường minh bạch, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên thứ ba giao dịch với công ty.

Hướng dẫn góp vốn đúng quy định theo Điều 46

Điều 46 Luật Doanh nghiệp (về góp vốn của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên) quy định rất rõ về thời hạn góp vốn, nghĩa vụ góp đủ và việc xử lý khi không góp đủ vốn. Để tránh rủi ro pháp lý và tranh chấp nội bộ, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình góp vốn chặt chẽ ngay từ đầu, từ khâu chuẩn bị hồ sơ chứng minh tài sản góp vốn, ghi nhận vốn trên giấy tờ đến tổ chức họp, lập biên bản góp vốn, cập nhật sổ đăng ký thành viên. Thành viên phải góp đủ phần vốn cam kết trong thời hạn tối đa 90 ngày (trừ trường hợp tài sản góp vốn phải vận chuyển, thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu mất thời gian hợp lý). Nếu không góp đủ, công ty buộc phải điều chỉnh vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp cho đúng thực tế.

Việc góp vốn không chỉ dừng ở tiền mặt mà còn có thể là tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc, phương tiện vận tải…) hoặc tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, quyền sử dụng đất…). Mỗi loại tài sản sẽ có yêu cầu chứng minh, định giá và thủ tục chuyển quyền riêng. Do đó, trước khi tiến hành góp vốn, các thành viên cần được phổ biến rõ về nghĩa vụ và hậu quả khi không góp đủ, đồng thời chuẩn bị sẵn hồ sơ tương ứng để khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là có thể triển khai góp vốn đúng thời hạn, đúng quy định Điều 46.

Chuẩn bị hồ sơ chứng minh tài sản góp vốn

Để góp vốn đúng luật, trước hết mỗi thành viên phải chuẩn bị hồ sơ chứng minh quyền sở hữu tài sản dùng để góp vốn. Với tiền mặt, cần có chứng từ nộp tiền vào tài khoản công ty, phiếu thu nội bộ hoặc sao kê ngân hàng thể hiện rõ tên người nộp, nội dung “góp vốn”. Với tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị, phương tiện, cần có hóa đơn mua bán, hợp đồng, giấy đăng ký, giấy chứng nhận quyền sở hữu… đứng tên người góp vốn (hoặc có giấy tờ chứng minh quyền định đoạt hợp pháp). Với tài sản vô hình, phải có tài liệu chứng minh quyền sở hữu trí tuệ, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, sáng chế, phần mềm, hợp đồng chuyển giao công nghệ, quyền sử dụng đất…

Ngoài ra, công ty nên yêu cầu thành viên cung cấp bản sao CMND/CCCD, thông tin liên lạc, cam kết góp vốn và dự thảo hợp đồng góp vốn (nếu cần). Việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ giúp quá trình định giá, lập biên bản góp vốn và ghi nhận trên sổ sách diễn ra nhanh chóng, tránh bị cơ quan thuế “soi” về nguồn gốc tài sản sau này.

Quy trình góp vốn bằng tài sản hữu hình và vô hình

Đối với tài sản hữu hình, sau khi các thành viên thống nhất về giá trị (hoặc thuê tổ chức định giá), công ty lập biên bản giao nhận tài sản góp vốn, nêu rõ đặc điểm, giá trị, thời điểm bàn giao và tỷ lệ vốn tương ứng. Đồng thời, phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản sang công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đăng ký sang tên xe, nhà, quyền sử dụng đất…).

Với tài sản vô hình, quy trình tương tự nhưng tập trung vào việc chứng minh quyền sở hữu và lập hợp đồng chuyển giao quyền (quyền tác giả, nhãn hiệu, phần mềm, bí quyết kỹ thuật…). Sau khi hoàn tất, công ty cập nhật sổ đăng ký thành viên, sổ tài sản, điều chỉnh vốn góp cho phù hợp. Tất cả phải được thực hiện trong thời hạn góp vốn theo Điều 46 để bảo đảm tính hợp lệ.

Lưu ý về định giá tài sản và biên bản góp vốn

Định giá tài sản góp vốn là khâu dễ phát sinh tranh chấp nhất nếu không làm chặt chẽ. Theo nguyên tắc, tài sản góp vốn có thể được các thành viên tự thỏa thuận định giá hoặc thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp. Nếu tự định giá, cần lập biên bản ghi rõ căn cứ, phương pháp định giá, chữ ký của tất cả thành viên; nếu thuê đơn vị định giá, kèm theo chứng thư định giá vào hồ sơ góp vốn. Định giá “quá cao” so với thực tế có thể dẫn đến rủi ro pháp lý nếu gây thiệt hại cho công ty hoặc bên thứ ba.

Biên bản góp vốn phải thể hiện đầy đủ: thông tin thành viên, loại tài sản, giá trị, tỷ lệ vốn tương ứng, thời điểm hoàn tất góp vốn, cam kết chịu trách nhiệm. Biên bản nên được đính kèm trong hồ sơ nội bộ (biên bản họp, quyết định của Hội đồng thành viên), làm căn cứ cập nhật Điều lệ và sổ đăng ký thành viên, tránh tranh chấp về sau.

Hậu quả pháp lý khi vi phạm Điều 46

Điều 46 đặt ra khuôn khổ bắt buộc về thời hạn và nghĩa vụ góp vốn đối với thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên. Khi một hoặc một số thành viên không góp đủ và đúng hạn phần vốn đã cam kết, không chỉ bản thân họ bị hạn chế quyền mà công ty cũng đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý, thuế và uy tín. Công ty buộc phải điều chỉnh lại vốn điều lệ trong thời hạn nhất định, đồng thời cập nhật lại tỷ lệ sở hữu trên sổ đăng ký thành viên, Điều lệ và thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu không thực hiện, dữ liệu đăng ký doanh nghiệp sẽ không phản ánh đúng thực tế, dễ bị xử phạt khi thanh tra, kiểm tra.

Về phía thành viên, việc không góp đủ vốn có thể kéo theo hậu quả là bị giảm hoặc mất quyền trong công ty, bị yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hành vi góp vốn “ảo” gây ảnh hưởng đến công ty hoặc bên thứ ba. Trong trường hợp nghiêm trọng, hành vi cố ý kê khai vốn khống, dùng thông tin vốn điều lệ không đúng để lừa dối đối tác, tổ chức tín dụng có thể còn bị xem xét trách nhiệm pháp lý cao hơn. Do đó, hiểu đúng và tuân thủ Điều 46 không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là “hàng rào an toàn” để công ty vận hành minh bạch, ổn định.

Giảm quyền quản lý – quyền biểu quyết của thành viên

Khi thành viên không góp đủ phần vốn đã cam kết, Điều 46 cho phép công ty điều chỉnh tỷ lệ vốn góp và tương ứng là điều chỉnh quyền biểu quyết, quyền chia lợi nhuận. Người góp thiếu vốn có thể bị xem là chưa là thành viên chính thức hoặc chỉ được công nhận trong phạm vi vốn thực góp, từ đó mất đi tiếng nói tại Hội đồng thành viên. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng như phân chia lợi nhuận, đầu tư dự án mới, thay đổi Điều lệ, bổ nhiệm – miễn nhiệm người quản lý.

Ngoài ra, việc không góp đủ vốn nhưng vẫn muốn giữ quyền như người góp đủ có thể gây xung đột với các thành viên còn lại, làm mất cân bằng quyền lực trong công ty. Về lâu dài, điều này làm suy giảm niềm tin nội bộ, ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh do phải tốn thời gian xử lý mâu thuẫn.

Rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính

Nếu công ty không thực hiện đúng nghĩa vụ điều chỉnh vốn điều lệ và cập nhật tỷ lệ vốn góp theo quy định khi có thành viên không góp đủ, doanh nghiệp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp. Hành vi kê khai không trung thực về vốn điều lệ, không thông báo điều chỉnh kịp thời hoặc sử dụng thông tin vốn “ảo” để ký kết hợp đồng, vay vốn, tham gia thầu… có thể bị phạt tiền, buộc phải cải chính thông tin, thậm chí bị xem xét trách nhiệm nặng hơn nếu gây thiệt hại cho đối tác.

Bên cạnh đó, cơ quan thuế khi đối chiếu vốn điều lệ với tình hình tài chính thực tế cũng có thể đặt nghi vấn về tính trung thực của báo cáo, dẫn đến việc kiểm tra sâu hơn, tăng rủi ro bị ấn định thuế hoặc truy thu nếu phát hiện sai phạm. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, cập nhật thông tin vốn để hạn chế tối đa các rủi ro này.

Tranh chấp nội bộ công ty về phần vốn góp

Một hậu quả thường thấy khi vi phạm Điều 46 là tranh chấp nội bộ về phần vốn góp và quyền lợi kèm theo. Thành viên góp không đủ vốn nhưng cho rằng mình vẫn có quyền như cam kết ban đầu; trong khi các thành viên khác chỉ chấp nhận ghi nhận theo vốn thực góp. Tranh chấp có thể xoay quanh quyền biểu quyết, quyền chia lợi nhuận, quyền ưu tiên khi chuyển nhượng phần vốn góp hoặc khi công ty giải thể, chia tài sản.

Nếu ngay từ đầu công ty không lập đầy đủ hợp đồng góp vốn, biên bản góp vốn, chứng từ nộp tiền/tài sản thì việc chứng minh ai đã góp bao nhiêu, vào thời điểm nào sẽ rất khó khăn. Nhiều vụ việc phải đưa ra tòa án hoặc trọng tài để giải quyết, tốn kém thời gian, chi phí và làm gián đoạn hoạt động kinh doanh. Vì vậy, tuân thủ Điều 46 và ghi nhận đầy đủ, rõ ràng các giao dịch góp vốn là cách tốt nhất để phòng ngừa tranh chấp.

Vì sao doanh nghiệp cần tư vấn pháp lý khi góp vốn?

Góp vốn nghe có vẻ đơn giản – chỉ là “bỏ tiền hoặc tài sản vào để cùng làm ăn” – nhưng dưới góc độ pháp lý, đây là một giao dịch rất nhạy cảm và phức tạp. Góp vốn liên quan trực tiếp đến tỷ lệ sở hữu, quyền quản lý, quyền biểu quyết, quyền hưởng lợi nhuận, nghĩa vụ chịu lỗ, cũng như trách nhiệm tài sản khi có tranh chấp, nợ nần. Chỉ cần thỏa thuận miệng, viết giấy tay sơ sài hoặc không đúng quy định pháp luật, doanh nghiệp và các bên góp vốn rất dễ rơi vào tình trạng “mâu thuẫn không có lối ra” khi phát sinh tranh chấp.

Tư vấn pháp lý giúp doanh nghiệp nhìn rõ bức tranh toàn diện trước khi góp vốn: góp bằng tiền, bằng tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ hay “công sức, chất xám”; góp một lần hay nhiều đợt; thời hạn góp vốn; hậu quả nếu không góp đủ, góp chậm là gì… Luật sư hoặc đơn vị tư vấn sẽ rà soát điều lệ, hợp đồng góp vốn, thỏa thuận cổ đông/thành viên, bảo đảm các điều khoản về tỷ lệ vốn, phân chia lợi nhuận, quyền quản trị, chuyển nhượng vốn, rút vốn… được quy định rõ ràng, không mâu thuẫn với luật.

Ngoài ra, góp vốn còn kéo theo nghĩa vụ về thuế, hóa đơn, chứng từ kế toán. Nhiều trường hợp góp vốn bằng tài sản nhưng không định giá đúng, không lập biên bản, không xuất đủ chứng từ… dẫn đến rủi ro khi cơ quan thuế kiểm tra hoặc khi doanh nghiệp cần chứng minh nguồn vốn, năng lực tài chính. Tư vấn pháp lý phối hợp với tư vấn kế toán – thuế sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án góp vốn tối ưu, hạn chế gánh nặng thuế, nhưng vẫn đúng quy định và đủ cơ sở pháp lý.

Quan trọng hơn, với những thương vụ có yếu tố đối tác nước ngoài, dự án lớn, thời gian hợp tác dài, việc có tư vấn pháp lý ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp lường trước các kịch bản “xấu nhất”: một bên muốn rút vốn, chuyển nhượng cho người thứ ba, thay đổi quyền kiểm soát, tranh chấp lợi nhuận, giải thể/thoái vốn… Từ đó, các điều khoản “phòng ngừa rủi ro” được xây dựng chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và hạn chế tối đa khả năng tranh chấp sau này.

Kết luận

Góp vốn không chỉ là câu chuyện “góp bao nhiêu tiền” mà là quyết định chiến lược ảnh hưởng trực tiếp đến quyền kiểm soát, lợi ích kinh tế và trách nhiệm pháp lý của từng bên trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Nếu chỉ dựa vào thỏa thuận cảm tính, giấy tờ sơ sài, doanh nghiệp rất dễ gặp rủi ro khi phát sinh mâu thuẫn hoặc khi cơ quan nhà nước kiểm tra.

Việc chuẩn bị kỹ hồ sơ, hợp đồng góp vốn và tham vấn ý kiến pháp lý chuyên nghiệp ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp: lựa chọn được cấu trúc góp vốn phù hợp, phân chia quyền lợi – nghĩa vụ rõ ràng, tối ưu thuế, đồng thời bảo vệ mình trước các kịch bản tranh chấp có thể xảy ra. Vì vậy, thay vì chỉ nhìn góp vốn dưới góc độ tài chính, doanh nghiệp nên coi đây là một giao dịch pháp lý trọng yếu, cần được thiết kế bài bản với sự đồng hành của đội ngũ tư vấn pháp lý – thuế – tài chính uy tín.

DANH SÁCH BÀI VIẾT LIÊN QUAN

tờ khai đề nghị cấp thẻ tạm trú

 tờ khai đề nghị cấp thẻ tạm trú na6

Thế nào là quy tắc 1 chiều trong chế biến thực phẩm, sản xuất

Giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhà hàng, quán ăn, quán cà phê

Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật an toàn thực phẩm

Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm

mẫu số 01. Bản tự công bố sản phẩm

mẫu số 02. Bản công bố sản phẩm

mẫu số 03. Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm

mẫu số 04. Giấy đăng ký kiểm tra thực phẩm nhập khẩu

mẫu số 05. Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt/
không đạt yêu cầu nhập khẩu

mẫu số 06. báo cáo kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu

mẫu số 07. danh sách cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đăng ký xuất khẩu vào việt nam

mẫu số 08. thông tin về hệ thống quản lý và năng lực kiểm soát an toàn thực phẩm của cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu

mẫu số 09. bản tóm lược thông tin về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất, kinh doanh

Bản quyền 2024 thuộc về giayphepgm.com
Gọi điện cho tôi Facebook Messenger Chat Zalo
Chuyển đến thanh công cụ